Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca

Rợ Nguyên quen thói tham tàn,
Quân năm mươi vạn những toan tranh giành.
Sắc sai Hưng Đạo Tổng Binh,
Với Trần Quang Khải các dinh tiến vào.
Chương Dương một trận phong đào,
Kìa ai cướp giáo ra vào có công?
Hàm quan một trận ruổi rong,
Kìa ai bắt giặc uy phong còn truyền?
Giặc Nguyên còn muốn báo đền,
Mượn đường hộ tống binh thuyền lại sang.
Bạch Đằng một cõi chiến tràng,
Xương bay trắng đất, máu vàng đỏ sông.
Trần Hưng Đạo đã anh hùng,
Mà Trần Nhật Duật kể công cũng nhiều.
Hoài Văn tuổi trẻ chí cao,
Cờ đề sáu chữ quyết vào lập công.
Trần Bình Trọng cũng là trung,
Đành làm Nam quý không lòng Bắc vương.
Khuyển ưng còn nghĩa đá vàng,
Yết Kiêu, Dã Tượng hai chàng cũng ghê.
Mà trong ngọc điệp kim chi,
Lũ Trần Ích Tắc sao đi đầu hàng?
Nhân khi biến cố vội vàng,
Kẻ trung người nịnh đôi đàng tỏ ra.
Trùng hưng đem lại sơn hà...

Bài thơ: HAI CHỮ NƯỚC NHÀ
Của Thi sĩ Á NAM TRẦN TUẤN KHẢI
(Nghĩ lời ông Phi Khanh dặn ông Nguyên Trãi khi ông bị quân Minh bắt giải sang Tàu)

Chốn Ải Bắc mây sầu ảm đạm
Cõi trời Nam gió thảm đìu hiu
Bốn bề hổ thét chim kêu
Ðoái nom phong cảnh như khêu bất bình

Hạt máu nóng thấm quanh hồn nước
Chút thân tàn lần bước dậm khơi
Trông con tầm tã châu rơi
Con ơi con nhớ lấy lời cha khuyên:

Giống Hồng Lạc hoàng thiên đã định
Mấy ngàn năm suy thịnh đổi thay
Trời Nam riêng một cõi này
Anh hùng, hiệp nữ xưa nay kém gì!

Than vận nước gặp khi biến đổi
Ðể quân Minh thừa hội xâm lăng
Bốn phương khói lửa bừng bừng
Xiết bao thảm hoạ xương rừng máu sông!

Nơi đô thị thành tung quách vỡ
Chốn dân gian bỏ vợ lìa con
Làm cho xiêu tán hao mòn
Lạ gì khác giống dễ còn thương đâu!
Thảm vong quốc kể sao cho xiết
Trông cơ đồ nhường xé tâm can
Ngậm ngùi khóc đất giời than
Thương tâm nòi giống lầm than nỗi này!

Khói Nùng lĩnh như xây khối uất
Sóng Long giang nhường vật cơn sầu
Con ơi! càng nói càng đau...
Lấy ai tế độ đàn sau đó mà?

Cha xót phận tuổi già sức yếu
Lỡ sa cơ đành chịu bó tay
Thân lươn bao quản vũng lầy
Giang sơn gánh vác sau này cậy con

Con nên nhớ tổ tông khi trước
Ðã từng phen vì nước gian lao
Bắc Nam bờ cõi phân mao
Ngọn cờ độc lập máu đào còn dây

Kìa Trưng nữ ra tay buồm lái
Phận liễu bồ xoay với cuồng phong
Giết giặc nước, trả thù chồng
Nghìn thu tiếng nữ anh hùng còn ghi

Kìa Hưng Đạo gặp khi quốc biến
Vì giống nòi quyết chiến bao phen
Sông Bạch Đằng phá quân Nguyên
Gươm reo chính khí nước rền dư uy (1)


Coi lịch sử gươm kia còn tỏ
Mở dư đồ đất nọ chưa tan
Giang san này vẫn giang san
Mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai?
Con nay cũng một người trong nước
Phải nhắc câu Gia, Quốc đôi đường
Làm trai hồ thỉ bốn phương
Sao cho khỏi thẹn với gương Lạc Hồng

Thời thế có anh hùng là thế
Chữ vinh hoa xá kể làm chi!
Mấy trang hào kiệt xưa kia
Hy sinh thân thế cũng vì nước non

Con đương độ đầu xanh tuổi trẻ
Bước cạnh tranh há dễ nhường ai?
Phải nên thương lấy giống nòi
Đừng tham phú quí mà nguôi tấc lòng

Kiếp luồn cúi, đỉnh chung cũng nhục;
Thân tự do chiên chúc mà vinh
Con ơi nhớ đức sinh thành
Sao cho khỏi để ô danh với đời

Chớ lần lữa theo loài nô lệ
Bán tổ tiên kiếm kế sinh nhai
Đem thân đầy đoạ tôi đòi
Nhục nhằn bêu riếu muôn đời hay chi?

Sống như thế, sống đê, sống mạt
Sống làm chi thêm chật non sông!
Thà rằng chết quách cho xong
Cái thân cẩu trệ ai mong có mình!

Huống con cũng học hành khôn biết
Làm giống người phải xét nông sâu
Tuồng chi gục mặt cúi đầu
Cam tâm làm kiếp ngựa trâu cho đành!

Nỗi tâm sự đinh ninh dường ấy
Cha khuyên con có bấy nhiêu lời
Con ơi! con phải là người
Thì con theo lấy những lời cha khuyên

Cha nay đã muôn nghìn bi thảm
Nói bao nhiêu tâm khảm càng đau!
Chân mây mặt cỏ rầu rầu
Càng trông cố quốc mạch sầu càng thương!

Lời cha dặn khắc xương để dạ
Mấy gian lao con chớ sai nguyền
Tuốt gươm thề với vương thiên
Phải đem tâm huyết mà đền cao sâu

Gan tráng sĩ vững sau như trước
Chí nam nhi lấy nước làm nhà
Tấm thân xẻ với san hà
Tượng đồng bia đá hoạ là cam công

Nữa mai mốt giết xong thù nghịch
Mũi long tuyền lau sạch màu tanh
Làm cho đất rộng trời kinh
Bấy giờ quốc hiển gia vinh có ngày!
Nghĩa vụ đó con hay chăng tá?
Tính toán sao vẹn cả đôi đường
Cha dù đất lạ gởi xương
Trông về cố quốc khỏi thương hồn già

Con ơi! Hai chữ nước nhà!

Chú Thích

(1) 2 câu thơ này được khắc dưới chân tượng Thánh trước Đền
Địa chỉ 9078 Đại lộ Trần Hưng Đạo – Bolsa Avenue, Westminster, California 92683.

Bài phú của Giải nguyên Vũ Tuân khắc tại Đền Kiếp Bạc

Nghiêng trời lệch nước cuộc đao binh,
Việc nước an nguy hệ một mình.
Núi Kiếp bao phen quân Việt thắng,
Sông Đầu một trận giặc Nguyên kinh.
Rắp đem văn vũ tài vô địch,
Nguyện rửa non sông tiếng bất bình.
Tháng tám dâng hương đền Kiếp Bạc,
Vẫn còn hiển hiện khí oai linh?
(Bản dịch của bác Thai NQ)

Trên vách cổng Đền Kiếp Bạc nhìn từ trong đền ra có hai bài bằng chữ nho bên phải (nhìn từ trong ra) là:

皇朝保大十三年歲次
戊寅仲春之月二十日
父子軍聲誓雪仇東阿宗社奠金甌
國無臣漢奴唐耻家有扲胡殺韃謀
祠庙馨香幾四海史編彪炳足千秋
六頭劔影餘靈在閃爍寒光射碧流
協佐大學士總督致仕南元禮亭潘廷槐拜題.
Hoàng triều Bảo Đại thập tam niên tuế thứ
Mậu Dần trọng xuân chi nguyệt nhị thập nhật.
Phụ tử quân thanh thệ tuyết cừu
Đông A tông xã điện kim âu
Quốc vô thần Hán nô Đường sỉ
Gia hữu cầm Hồ sát Thát mưu
Từ miếu hinh hương cơ tứ hải Sử biên bưu bính túc thiên thâu
Lục Đầu kiếm ảnh dư linh tại Thiểm thước hàn quang xạ bích lưu.
(Hiệp tá đại học sĩ Tổng đốc trí sĩ Nam Nguyên Lễ Đình Phan Đình Hòe bái đề.)
Dịch:
Ngày 20 tháng 2 năm Mậu Dần, năm thứ 13 đời vua Bảo Đại
Cha con thề rửa sạch thù
Đông A xã tắc cõi xưa vững vàng
Nước không nô lệ Hán Đường
Nhà mưu bắt giặc giết phường xâm lăng
Miếu đền bốn biển ngát hương
Nghìn thu chói lọi sáng bừng sử xanh
Lục Đầu còn bóng kiếm thiêng
Hào quang vẫn tỏa lung linh sóng ngời.
(Phan Đình Hòe, tự Lễ Đình, hiệu Nam Nguyên, hàm Hiệp tá đại học sĩ, Tổng đốc về trí sĩ, lạy đề.)

CÁC CÂU ĐỐI

Đây là câu đối ở đền thờ ông, nguyên thuộc xã Vạn An, tổng Tiên Túc, huyện Thọ Xương, nay là phường Chương Dương, Hoàn Kiếm, Hà Nội:
Bạch Đằng thủy trận lưu thanh tích
Đông Hải hùng binh vạn cổ thần

(Trận Bạch Đằng dấu tích còn mãi
Binh Biển Đông nghìn xưa hóa thần)

Và đây là một câu đối ngợi ca chiến thắng của quân sỹ thời Trần dưới sự chỉ huy của thống soái Trần Hưng Đạo:
Chương Dương dấu tích thiên thu tự
Hàm Tử linh từ vạn cổ xuân

(Dấu tích bến Chương Dương từ nghìn xưa vọng lại
Đền thiêng đất Hàm Tử còn mãi với mùa xuân)

Ngày nay, tại đền Trần Nam Định, ngôi đền Cố Trạch là nơi thờ ông cùng gia quyến, gia thần. Theo “Nam Định dư địa chí” của Ngô Giáp Đậu viết “ khoảng đời Tự Đức (1848-1883) quan tỉnh thừa lệnh sửa đế miếu, đào đất phía Đông thấy một phiến đá bia vỡ, trên khắc 6 chữ “ Hưng Đạo thân vương cố trạch” theo nghĩa chữ Nho xưa của ta, “Cố” là cũ, xưa. “Trạch” là nền nhà, nơi ở. Vì thế “ Cố trạch” có nghĩa: Đền xây dựng trên nền nhà cũ của Hưng Đạo Vương”. Năm Thành Thái thứ 6 (1894) đền được xây dựng để thờ ông ngay trên mảnh đất ngôi nhà cũ gồm hai tòa Chính tẩm và Trung đường còn Thiêu hương và Tiền đường do tổng đốc Nam Định Phạm Văn Toán xây dựng. Đối với nhân dân làng Tức Mặc đã coi ngôi đền như từ đường ngành trưởng của dòng tộc nhà Trần. Hiện nay đền còn lưu những văn bia, đại tự, câu đối có niên đại từ thời nhà Nguyễn ca ngợi cuộc đời “sinh vi tướng, tử vi thần” của ông, như:

Vi danh tướng vi danh thần, thạch mã sơn hà câu đối lệ
Thị cố hương, thị cố trạch Thiên Trường cung khuyết nhạ huân cao

(Gọi danh tướng, gọi danh thần, như đá mài, như dải lụa
Là cố hương, là cố trạch, Thiên Trường cung khuyết, vẫn nhang khói, vẫn trang nghiêm)

Câu đối niên hiệu Thành Thái thứ 8 (1896)

Trung ư quốc, hiếu ư gia, hoàng Việt đệ nhất lưu tôn thần quýnh xuất
Lý dĩ tiền, Lê dĩ hậu, Nam nhạc ngũ bách niên danh thế gian sinh

(Trung với nước, hiếu với nhà, nước Việt làm tôi người hiếm thấy
Lý thời qua, Lê thời tới, núi Nam sinh thánh chuyện nhiều đâu)

Hoành phi treo tại gian giữa tòa tiền đường do Tổng đốc Phạm Văn Toán dâng năm Bính Ngọ dưới triều vua Thành Thái (1906):

“Thiên khải thánh nhân đệ nhất lưu
Hạo nhiên chính khí lẫm thương tiêu
Bí thư huyền diệu kinh tỳ hổ
Linh kiếm quang đằng xạ đẩu ngưu
Uy chấn càn khôn văn Bắc quốc
Công thùy vũ trụ hiển Nam châu
Khuông phù xã tắc sơn hà tráng
Đức phú lê dân ngưỡng tý hưu”

Dịch nghĩa:
“Trời sinh vị thánh nhân bậc nhất
Anh hùng lẫm liệt, sánh xanh cao
Sách quý u huyền hùm báo sợ
Kiếm thiêng sáng chói lóa sao Ngân
Lẫy lừng uy vũ vang phương Bắc
Hiển hách công lao dưới cõi Nam
Xã tắc non sông nhờ thế mạnh
Nhân dân chờ đợi phúc trên ban”

Tại ĐỀN KIẾP BẠC

Đền Kiếp Bạc là nơi thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn xây tại làng Vạn Yên, huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương (Hải Hưng) từ năm Canh Tí, 1300, tức là năm Hưng Đạo Vương qua đời. Ngài đã được phong tới chức Thái sư Thượng phụ Thượng Quốc công Bình Bắc Đại nguyên súy.
Đền Kiếp Bạc tựa lưng vào núi Dược Sơn, một ngọn núi ở giữa một dãy núi gồm ba ngọn, hai ngọn hai bên là núi Nam Tào và núi Bắc Đẩu, trên hai ngọn núi này có đền thờ Nam Tào và Bắc Đẩu lưỡng vị tinh quân. Mặt đền trông ra Lục Đầu giang, nơi ba con sông Nhật Đức gọi nôm là sông Thương, Nguyệt Đức gọi nôm là sông Cầu và Thiên Đức gọi nôm là sông Đuống gặp sông Lục Nam, sông Thái Bình và sông Kinh Môn. Ngay trước đền có một bãi đất rộng gọi là Cồn Kiếm, tục truyền là nơi xưa kia Hưng Đạo Vương đã hành quyết Phạm Nhan.

Câu đối trước Đền Kiếp Bạc

Vạn kiếp hữu sơn giai kiếm khí
Lục đầu vô thủy bất thu thanh.

(Thám Hoa Vũ Phạm Hàm)
Lược dịch:
Tất cả các ngọn núi của Vạn kiếp còn chói ngời ánh kiếm thần
Lục đầu Giang vẫn nghe vang vọng tiếng quân reo

Dịch thơ:
Vạn Kiếp núi chồng hình kiếm dựng
Lục đầu nước dội tiếng quân reo


GHI CHÚ:
“Bởi tấm lòng ấy, bởi tài năng ấy, Trần Hưng Đạo khiến cho muôn đời cảm phục. Vũ Phạm Hàm (từng đỗ tam nguyên thời nhà Nguyễn) đã có đôi câu đối để ở đền thờ Vạn Kiếp rằng: “Vạn Kiếp hữu sơn giai kiếm khí, Bạch Đằng vô thủy bất thu thanh”. Nghĩa là:Núi Vạn Kiếp chẳng nơi đâu là không có kiếm khí, Sông Bạch Đằng không có ngọn song nào không có hơi vũ khí. Tức ca ngợi võ ông oanh liệt của Trần Hưng Đạo.

Người Tàu cũng có câu đối:

“Địa chuyển ngã Việt chủng cư Bắc phương, Âu châu cảnh nội vô Mông kỵ tung hoành thiên vạn lý Thiên sinh thử lương tài ư Tống thất, Trung Quốc sử tiền miễn Nguyên triều đô hộ nhất bách thiên"
Nghĩa là:
Đất mà hoán chuyển cho người Việt lên ở phương Bắc, thì ngựa Mông Cổ không thể nào tung hoành ngàn vạn dặm đất Châu Âu - Trời mà sinh đấng lương tài này (tức Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn) trên đất Tống thì lịch sử Tàu không có chuyện bị Nguyên triều cai trị 100 năm.

Tại Đền Tây Ninh

Hưng bang tế thế sơn môn nghiêm tĩnh kỳ phong điều vũ thuận.

(Dựng nước giúp đời cửa Phật thanh tịnh cầu mưa thuận gió hoà.)

Đạo pháp hoành dương hải chúng hợp hoà nguyện quốc thái dân an.

(Phát huy phép đạo vô biên mong nước thái bình dân yên ổn.)

Tại Thánh Trần Từ - Đền Thượng Lào Cai

Tại Tam quan nội, phía trước có treo bức hoành phi “Văn hiến tự tại”, hai bên có hai câu đối:

Việt khí linh đài hoành không lập
Đông A hào khí vạn cổ tồn

Dịch nghĩa:
Nước Việt đài thiêng vắt ngang trời
Nhà Trần hào khí còn muôn thủa

Phía sau Tam quan nội có treo bức hoành phi “Quốc Thái Dân An” và hai câu đối:

Thiên địa dịu y, thiên địa cựu;
Thảo hoa kim dị, thảo hoa tiền.


Dịch nghĩa:
Trời đất vẫn nguyên, trời đất cũ
Cỏ hoa nay khác, cỏ hoa xưa

Tại Sài Gòn (đường Hiền Vương trước 1975, nay VC đổi thành Võ Thị Sáu)

Nơi chánh điện treo hai câu đối:
Vạn lĩnh thị thiên thu chi linh ứng địa, phong lôi trường hưởng kiếm minh thanh
Đằng giang vi nhị thứ chi chiến thắng trường, tang hải bất di duy thực tích.


Dịch nghĩa:
Sông núi đất nước đáng là nơi ngàn năm thiêng liêng, sấm sét vang mãi tiếng kiếm khua
Sông Đằng Giang hai lần chiến thắng, giang sơn đất nước không dời dấu tích đóng cọc.

Tại Hà Nội, đền Phù Ủng, nơi vọng thờ Phạm Ngũ Lão còn khắc đôi câu đối cổ ca ngợi tài đức và sự nghiệp kỳ vĩ của ông

Văn thi thao lược, thiên cổ tịnh hiền hào, dược thạch minh bi, hải hồ vịnh sử.
Mông - Thát, Chiêm - Lao, nhất thời giai úy phục, Trần triều kỷ tích, Việt quốc lưu danh.

Dịch nghĩa:
Văn thơ thao lược, muôn thuở ngợi hùng tài, lời răn khắc đá, biển sông ca vịnh.
Nguyên - Mông, Chiêm - Lào, một thời đều úy phục, triều Trần ghi công, sử Việt lưu danh.

Đền Sơn Hải

Tọa lạc bên cầu Chương Dương, số 16, ngõ 53, đường Bạch Đằng, nhìn ra sông Cái - sông Mẹ ngọt lành, đền Sơn Hải (tên chữ là Sơn Hải linh từ) thuộc phường Chương Dương (quận Hoàn Kiếm) thờ Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Đền cũng là nơi duy nhất của thành phố thờ bốn nam tử của Trần Hưng Đạo-Đệ nhất vương tử Trần Quốc Nghiễn, Đệ nhị vương tử Trần Quốc Hiến; Đệ tam Hưng nhượng vương Trần Quốc Tảng; Đệ tứ vương tử Trần Quốc Uất và 18 vị tướng tài danh của nhà Trần.

Gian giữa đền thờ Đức Thánh Trần uy nghi, bức hoành phi Khí tráng sơn hà và đôi câu đối ghi lại chiến công Đông Bộ Đầu hiển hách:
Nguyên soái trầm bạch thuỷ, truyền thư vạn kiếp trấn Nam Bang
Trần thánh hiển thanh sơn, minh kiếm Bộ Đầu tiêu bát quái


Dịch nghĩa:
Quân Nguyên bị đánh chìm ở sông Bạch Đằng còn lưu sử sách nước Nam
Đức Thánh Trần như núi cao, sáng rỡ kiếm linh thiêng diệt giặc ở Đông Bộ Đầu

Đền Bảo Lộc (thôn Bảo Lộc, xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định)

Đền Bảo Lộc nguyên là đền An Lạc, thuộc làng Bảo Lộc, tổng Hữu Bị, huyện Mỹ Lộc nay là xã Mỹ Phúc huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định. Từ thành phố Nam Định theo đường 38A chừng 5km, gặp dốc Hữu Bị rẽ trái, đi dọc đê Châu Giang khoảng 2km là đến đền Bảo Lộc.
Đền được xây dựng trên đất “thang mộc” của An sinh vương Trần Liễu, thân phụ của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn và là anh trai của Trần Thái Tông – vị vua đầu tiên của vương triều Trần.
Câu đối ngay phía trước đền:

"Thử địa vi thánh phụ sở cư, thiên cổ cố truyền thang ấp xứ
Kim thiên kế tiền nhân chi kiếp, vạn niên do lại lộc hương an"


(Đất này nơi thánh phụ ở năm xưa, ngàn thuở vẫn còn nên thang ấp ấy
Ngày nay nối tiền nhân từng dựng đặt, muôn năm nhờ cậy lộc hương đây).

Sử gia Ngô Thì Sĩ trong “Việt sử tiêu án” đã trân trọng viết về Đức Thánh: “Tài văn võ đủ làm phép cho muôn nước mà không dám cậy tài năng, Anh hùng nổi tiếng hai nước mà không nhận công nghiệp. Thế lực có thể lật sông núi đuổi sấm sét, mà lúc nào cũng coi uy nhau vua ở trước mặt. Nay xem ra theo nghĩa mà phải không theo lời cha. Biết có nước mà không biết đến nhà, bẻ mũi gậy để đi theo hầu vua, giơ gươm mà kể tội con. Lòng trung thành sáng như mặt trời”. Trong đền còn nhiều câu đối, cuốn thư, đại tự của người xưa để lại ca ngợi võ công văn trị của Hưng Đạo đại vương.

Đền Hải Dương

Tiết chế binh nhung toàn tài quyền Nguyên soái.
Triều đình sắc tặng Đại nghĩa Thượng quốc công.

Dịch nghĩa:

Giữ chức Tiết chế, quyền Nguyên Soái toàn tài dẹp giặc.
Triều đình tặng sắc là bậc Đại nghĩa Thượng quốc công.

Đền Little Saigon, Westminster, California

Ký giả Du Miên được báo mộng, cho câu đối toàn bằng tiếng Việt

LÚC TẠI THẾ XẢ THÂN CỨU NƯỚC
KHI VỀ TRỜI HIỂN THÁNH ĐỘ DÂN




Hải quân Đinh Quang Truật đã chạm khắc và thờ hai bên tượng đá trong Đền Thánh địa chỉ 9078 đại lộ Trần Hưng Đạo – Bolsa Avenue – Westminster – California – Hoa Kỳ.

BẠCH ĐẰNG GIANG CA

HƯNG ĐẠO CA